Hiển thị các bài đăng có nhãn sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2010

Nấc cục (nấc cụt)- Nguyên nhân và cách điều trị

          Nấc cục là sự co thắt đột ngột, không tự ý của cơ hoành, tống khí ra khỏi buồng phổi, luồng khí khi đi ngang qua dây thanh âm tạo thành tiếng Nấc cục. Nấc cục nếu chỉ xảy ra thỉnh thoảng, kéo dài vài phút thì thường là không ảnh hưởng đến sức khỏe, gọi là Nấc cục tạm thời và không cần điều trị; nhưng Nấc cục nếu kéo dài hơn 1,2 ngày hoặc tái phát có chu kỳ thì thường là do nguyên nhân bệnh lý và cần phải điều trị.


       Nấc cục có nhiều nguyên nhân, đa số do rối loạn đường tiêu hóa, ví dụ: ăn nuốt quá nhanh, ăn nhiều thực phẩm quá nóng hoặc quá lạnh, thực phẩm có nhiều gia vị, uống nhiều nước có gas, nuốt quá nhiều không khí vào bao tử; hoặc một số nguyên nhân bệnh lý khác như các biến chứng phẫu thuật, nhiễm trùng não... Ở trẻ em, Nấc cục đa số là do bé bú quá no làm căng dãn gây rối loạn vận động co thắt của cơ hoành, trường hợp bệnh lý có thể là do trào ngược dạ dày - thực quản, viêm phổi hay bị phản ứng thuốc.

         Những trường hợp Nấc cục tạm thời hoặc Nấc cục do các rối loạn đường tiêu hóa thì Nấc cục có thể sẽ tự hết hoặc người bệnh cần chú ý và điều chỉnh lại chế độ ăn uống của mình. Nấc cục tạm thời có thể chữa hết bằng các mẹo nhỏ, như: cố gắng hít thật sâu và nín thở thật lâu, nuốt hơi liên tục nhiều lần trong lúc đang nín thở, uống một ly nước lạnh thật nhanh và nín thở thật lâu sau đó, hít vào bằng mũi thật sâu rồi thở ra từ từ bằng miệng… mục đích để kéo dãn cơ hoành, tạo lại hoạt động bình thường cho cơ hoành. Còn Nấc cục do có bệnh lý cụ thể thì cần điều trị triệt để nguyên nhân.

        Để thoát khỏi cơn Nấc cục, bạn cần làm tăng lượng thán khí (CO2) trong máu vì thán khí làm giảm Nấc cục, dưỡng khí (O2) làm tăng nấc. Bạn có thể kiểm chứng bằng cách trong lúc bị nấc, hít thử một hơi không khí đầy buồng phổi và sẽ thấy một cái Nấc cục tiếp nối ngay sau hơi thở này.

  -    Nuốt khô một muỗng cà phê đường. Việc này thường chặn đứng chứng nấc cục chỉ trong một vài phút. Đối với trẻ em, có thể cho uống nửa muỗng cà phê đường pha vào 120 ml nước.

  -   Ngược đầu lại và uống một ly nước: Lấy một ly nước lạnh, khum người tới trước và uống ly nước ngược. Nói đơn giản hơn là: Hãy uống một ly nước bằng mép ly đối diện với bạn. Thông thường, khi uống nước, bạn uống ở mép ly gần với bạn hơn, và môi trên bạn nằm trong vòng tròn của vành ly. Khi nấc cục, hãy uống ở mép ly bên kia, sao cho môi dưới bạn nằm trong vòng tròn của vành ly.

  -    Bơm hết không khí ra khỏi buồng phổi: Hãy dồn hết không khí ra khỏi phổi thật chậm và đều. Bạn sẽ thấy hơi ngộp thở, nhưng hãy cố giữ lại vài mươi giây.

  -    Dùng hai ngón tay trỏ của hai bàn tay nhét chặt vào hai lỗ tai chừng nửa phút. Hành động này kích thích hệ thần kinh và làm hết nấc cục (mẹo vặt này có kết quả trên 95% tổng số bệnh nhân).

Ngoài những phương pháp rất hữu hiệu kể trên (có tác dụng trên hầu hết số bệnh nhân), bạn cũng có thể thử các mẹo vặt dưới đây với hiệu quả khoảng 50%:

  -    Há miệng ra và nhìn sâu vào, bạn sẽ thấy có một cục tròn treo ngay giữa thành trên của cổ họng, đó là lưỡi gà. Dùng một muỗng cà phê nâng cục này lên vài lần, có thể hết nấc cục.

  -    Dùng bông gòn quấn vào đầu đũa, nhẹ vào vòm trên của miệng (vòm khẩu cái), âm phần cứng và mềm gặp nhau.

  -    Nhai và nuốt một miếng bánh mì khô.

      Hoặc có thêm nhiều cách khác như: để hết nấc, bạn có thể lấy một cục đá lạnh để ngậm và mút cho đến khi cơn nấc biến mất. Ngồi chồm hổm, tựa mạnh ngực trên hai đầu gối cũng là giải pháp hữu hiệu.

CHÚC BẠN VUI VẺ !

Cách trị nấc cục (nấc cụt)


Nấc là hiện tượng co thắt cơ hoành làm co đột ngột bụng và ngực. Bệnh có thể được chữa bằng nước gừng, cháo hạt tía tô, cháo nho... hoặc đơn giản bằng cách uống từng ngụm nước nhỏ hoặc nuốt nước bọt liên tục.
Nguyên nhân gây nấc tạm thời là do rối loạn trong hoạt động của cơ hoành. Còn nguyên nhân gây nấc kéo dài thường do các bệnh như thoát vị cơ hoành, viêm miệng nối thực quản, áp xe dưới hoành, hoặc các bệnh phổi, bệnh tim, thiếu máu cục bộ, tăng ure huyết… Theo Đông y, nấc là do khí uất gây bất hòa trong nội tạng, làm ảnh hưởng tới cơ chế khí, sự điều hòa tân dịch không thuận, không đủ dinh dưỡng, phát sinh đờm đục, can khí lấn át vị khí.

Một số bệnh lý như táo bón lâu ngày, tiểu tiện không thông, cơ thể hư nhược… cũng gây nấc. Nấc còn xuất hiện khi ăn uống không điều độ, đồ ăn nóng lạnh lẫn lộn, thường xuyên uống nước lạnh, hoặc để dạ dày gặp lạnh, mất khả năng điều tiết, khiến khí đi ngược lên cơ hoành.
Người ta chia nấc làm 3 loại:
- Nấc do nhiễm lạnh: thường xuất hiện vào buổi sáng, tiếng nấc nhẹ. Buổi tối, tiếng nấc nặng hơn và liên tục, thời gian nghỉ giữa 2 tiếng nấc ngắn, chân tay lạnh.
- Nấc do nhiệt thịnh: tiếng nấc to, mạnh, thời gian giữa 2 tiếng không cố định, lúc ngắn lúc dài, miệng lưỡi khô, đi ngoài khó…
- Nấc do cơ thể suy hư, ốm yếu: tiếng nấc yếu nhẹ, không liên tục, thời gian nghỉ giữa 2 tiếng dài, người mệt mỏi, chán ăn, ngủ kém…
Một số món ăn bài - thuốc trị nấc:
1. Nước gừng: gừng tươi 2 lát mỏng, giã nhỏ, đun với 200ml nước nhỏ lửa, để nguội, lọc nước bỏ bã. Đường trắng 1 thìa cà phê cho vào quấy đều. Bệnh nhân vừa uống vừa đếm đến 9, dùng 1-2 lần/ngày.
2. Nước vải: vải chín 10 quả, bóc cùi, cho vào cốc với 1 thìa cà phê mật ong, hấp cách thủy. Khi cùi vải chín thì ép lấy nước. Bệnh nhân ăn cùi vải trước sau đó uống nước 2 lần/ngày.
3. Nước quất hồng bì: quất hồng bì chín 20 quả, rửa sạch, bỏ hạt cho vào cốc dầm nát, thêm 1 thìa canh đường, trộn đều, hấp cách thủy. Khi quất hồng bì chín, ép lấy nước uống.
4. Cháo hạt tía tô: hạt tía tô 20 g, xay thành bột mịn, thêm hạt tiêu 4 hạt, đun với 250 ml nước, chắt nước bỏ bã. Bột gạo 100 g cho vào nước hạt tía tô, đun nhỏ lửa. Khi cháo chín cho 20 g đường phèn, quấy tan. Bệnh nhân ăn một lần lúc đói, trong 2-3 ngày.
5. Cháo nho: Nho chín 100 g, gạo 100 g, sữa bò tươi 50 ml, mật ong 1 thìa. Gạo xay thành bột, nho quả rửa sạch, giã dập đun với 200 ml nước, chắt nước bỏ bã. Cho bột gạo, sữa bò tươi, mật ong vào nước nho, quấy đều, đun nhỏ lửa cho đến khi cháo chín. Bệnh nhân ăn một lần/ngày lúc đói, dùng trong 2 ngày.
Cách trị nấc không dùng thuốc:
- Khi nấc, uống liên tục từng ngụm nước nhỏ, nước có ga, hoặc nuốt nước bọt liên tục…
- Dùng ngón trỏ và ngón cái bóp kín 2 cánh mũi, đồng thời khép kín miệng môi, phồng má rồi dồn khí lên hai tai, mỗi lần làm như vậy trong 2-3 giây, rồi nghỉ 2-3 giây và lặp lại khoảng 15 -20 lần.
- Bệnh nhân nhắm hờ mắt, dùng hai ngón tay trỏ ấn nhẹ và sâu vào hai nhãn cầu trong 1-2 giây, rồi nhấc hờ hai ngón tay trỏ, làm liên tục trong 15-20 lần.
Bác sĩ Minh Nguyệt, Khoa Học & Đời Sống

Thứ Bảy, 27 tháng 2, 2010

Tại sao uống rượu gây đỏ mặt và nguy cơ ung thư thực quản

Nguyễn Văn Tuấn
(Bản ngắn hơn đã đăng trên TTCN 5/4/09)

Một “hội chứng” khá phổ biến ở người Việt là sau khi uống vài li rượu, thậm chí chỉ một vài hớp rượu, thì mặt nóng bừng và biến sang màu đỏ; ở một số người khác, mặt chẳng những đỏ, mà còn dễ bị ói mửa.  Nhờ di truyền học, ngày nay chúng ta biết được “thủ phạm” của hội chứng này trong một gien có tên là ALDH2.  Một nghiên cứu mới nhất cho thấy những người với hội chứng đỏ mặt khi uống rượu cũng chính là những người có nguy cơ mắc bệnh thực quản cao.
Hội chứng mặt đỏ ửng khi uống rượu (phải) của một thanh niên 22 tuổi. Nguồn: PLoS Medicine.  
Quá trình chuyển hóa của rượu trong cơ thể
Một đặc điểm thường hay thấy ở một số người khi uống rượu (hay bia) thì mặt trở nên đỏ ửng.  Trong khoa học, có người gọi “hội chứng” này là “Asian Flush”, vì phần lớn “nạn nhân” là người Á châu.  Để hiểu nguyên nhân của hội chứng này, chúng ta cần phải biết qua cơ chế sinh học đằng sau của sự chuyển hóa rượu trong cơ thể. 
Rượu chứa chất ethanol.  Khi uống rượu, cơ thể chúng ta tiếp thu chất ethanol, và trải qua hai bước chuyển hóa trong gan.  Bước thứ nhất, enzyme ADH chuyển hóa ethanol thành acetaldehyde.  Bước thứ hai, enzyme ALDH2 chuyển hóa acetaldehyde thành acetate, hay nói nôm na là axít axetic mà chúng ta thấy trong dấm.  Thật ra, acetate còn được chuyển hóa một lần nữa nhưng ở ngoài gan, và chúng ta sẽ không quan tâm ở đây.  
Trong ba hoạt chất (ethanol, acetaldehyde và acetate), acetaldehyde được xem là độc hại nhất, vì nó có khả năng gây đột biến DNA và ung thư.  Mức độ độc hại của ethanol thường thấp, và acetate thì tương đối vô hại.  Khi acetaldehyde tích tụ trong máu sẽ gây ra tình trạng nóng bừng, ói mửa, và ở một số người thì nhịp tim đập nhanh.  Chính acetaldehyde cũng là thủ phạm của những “dư hưởng” như nhức đầu vào buổi sáng sau khi uống rượu trong đêm trước.
Vai trò của gien ALDH2
Nhiều nghiên cứu trong vòng 2 thập niên qua cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin quan trọng về ảnh hưởng của gien đến tửu lượng của từng cá nhân.  Nói ngắn gọn, quá trình chuyển hóa từ ethanol trong rượu sang acetaldehyde chịu sự điều phối của một gien có cùng tên với enzyme là ALDH2.  Gien ALDH2 có hai phiên bản là Glu (tạm viết tắt là G) và Lys (L); do đó, trong dân số có 3 nhóm người với 3 biến thể gien: GG, LG và LL. 
Người mang biến thể LL cơ thể không có khả năng chuyển hóa acetaldehyde một cách hữu hiệu, và do đó hoạt chất này tích tụ trong cơ thể.  Chính vì lí do này mà người mang biến thể LL khi uống rượu mặt trở nên đỏ ửng, hay ói mửa, và tim đập nhanh.  Biến thể LL hiện diện trong khoảng 30-40% ở người Đông Á (Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc).  Ở Việt Nam, vì chưa có những nghiên cứu liên quan nên chúng ta chưa biết chính xác tần số người mang biến thể LL, nhưng tôi có thể đoán là con số cũng vào khoảng 30-40% vì tần số gien ở người Việt không khác mấy so với người Đông Á. 
Người mang biến thể LG có khả năng chuyển hóa acetaldehyde tốt, nên họ có tửu lượng cao hơn những người với biến thể LL.  Phần lớn những người uống rượu nhiều ở Nhật và Hàn Quốc mang trong mình biến thể LG và GG. 
Ung thư thực quản
Ung thư thực quản tuy không phổ biến ở các nước phương Tây nhưng khá phổ biến ở người Á châu.  Ung thư thực quản là một bệnh nguy hiểm, bởi vì khoảng 2/3 bệnh nhân tử vong trong vòng 5 năm sau khi chẩn đoán.  Nhiều nghiên cứu trong thời gian qua cho thấy nguy cơ ung thư thực quản gia tăng theo hàm lượng rượu.  Người uống rượu càng nhiều, nguy cơ ung thư càng tăng theo cấp số nhân.
Ung thư thực quản của một bệnh nhân 51 tuổi với tiền sử uống rượu và mặt đỏ ửng. Nguồn: PLoS Medicine.
Nhưng nguy cơ ung thư tùy thuộc vào biến thể gien.  Đối với những người uống rượu, người mang biến thể LL có nguy cơ ung thư cao hơn người mang biến thể LG và GG.  Chẳng hạn như nếu người mang biến thể LL mà uống nhiều rượu (trên 400 mg mỗi tuần) nguy cơ ung thư thực quản tăng gấp 50 lần so với người cũng mang biến thể LL hay LG uống rượu với liều lượng thấp (dưới 200 mg ethanol mỗi tuần).
Tuy nhiên, vì những biến chứng ói mửa và nóng bừng, nên người mang biến thể LL thường không uống nhiều rượu.  Do đó, ung thư thực quản hay thấy ở những người mang biến thể LG và GG.  Thật vậy, nghiên cứu ở Nhật cho thấy khoảng 60-70% trường hợp ung thư thực quản là do biến thể LG!
Phòng bệnh
Ở nước ta, lạm dụng rượu bia đã và đang trở thành một vấn nạn y tế công cộng với qui mô tầm quốc gia.  Kết quả điều tra y tế cộng đồng của Tổ chức Y tế thế giới cho biết có khoảng 70% đàn ông và 4% nữ thường xuyên uống rượu và bia.  Trong số này 6% đàn ông được xem là uống “nhiều rượu” ở mức độ có thể gây nguy hại đến sức khỏe.  Chi phí y tế liên quan đến rượu chiếm một phần lớn của ngân sách gia đình và quốc gia. 
Những nghiên cứu mới nhất vừa trình bày trên đây cung cấp cho chúng ta một phương pháp đơn giản để ngừa bệnh.  Nếu người uống rượu mà mặt biến thành màu đỏ ửng, đó chính là tín hiệu cho biết người đó mang trong người biến thể LL của gien ALDH2, và nếu tiếp tục uống rượu dù ở liều lượng trung bình (như 200 đến 400 mg ethanol mỗi tuần) thì nguy cơ ung thư thực quản rất cao.  Biện pháp phòng bệnh tốt nhất cho những người này là hạn chế tửu lượng càng thấp càng tốt hay nhất là bỏ rượu. 
Đối với những người uống rượu nhưng mặt không chuyển màu, rất có thể họ mang trong người biến thể LG và GG. Ở những người này (khoảng 60-70% trong cộng đồng) vì tửu lượng có thể cao, và do đó, nguy cơ ung thư thực quản vẫn tăng.  Biện pháp phòng bệnh ở những người này là giữ liều lượng rượu ở mức trung bình và thấp (dưới 400 mg ethanol/tuần) để giảm nguy cơ ung thư thực quản. Theo ước tính của các nhà nghiên cứu, nếu những người uống mang biến thể LG và GG giảm tửu lượng xuống mức dưới 200 mg ethanol/tuần thì số ca ung thư thực quản sẽ giảm khoảng 50%.  
ykhoanet.com

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2009

Sử dụng tế bào gốc của máu người để tiêu diệt HIV


Một nghiên cứu cho thấy có thể sử dụng tế bào gốc của máu người để sản xuất các tế bào có khả năng tìm diệt những tế bào bị nhiễm HIV.


Kết quả có thể dẫn tới việc sản xuất loại một loại vắcxin di truyền này không chỉ là tin tức tốt lành trong cuộc chiến chống HIV mà còn có thể ứng dụng để chống lại một loạt các bệnh mãn tính do virus.


Trong công trình trên, các nhà nghiên cứu của Viện AIDS thuộc Đại học California cùng đồng nghiệp đã lấy các tế bào T “tiêu diệt” có chức năng chống viêm nhiễm, được gọi là tế bào bạch cầu T CD8, từ một người nhiễm HIV
Sau đó họ xác định các phân tử gọi là thụ thể tế bào T - loại phân tử định hướng cho tế bào T nhận dạng và tiêu diệt tế bào nhiễm HIV.


Mặc dù loại tế bào này có khả năng tiêu diệt các tế bào nhiễm HIV, song về số lượng chúng không đủ để loại bỏ virus HIV trong cơ thể.

Tế bào máu. Ảnh minh họa.
Vì vậy, các nhà nghiên cứu đã tiến hành nhân bản thụ thể tế bào T và biến đổi gen các tế bào gốc của máu, tiếp đến họ đặt các tế bào gốc vào mô tuyến ức của người, được nuôi cấy trong chuột, để nghiên cứu phản ứng trong một cơ thể sống.

Các tế bào gốc được đưa vào đã sản sinh ra một lượng lớn tế bào CD8 trưởng thành đa chức năng có khả năng tìm diệt những tế bào chứa protein HIV.


Các nhà nghiên cứu cũng thấy rằng thụ thể tế bào T chống HIV trên còn cần phải hòa hợp với cơ thể người tương tự như nội tạng phải phù hợp với bệnh nhân được cấy ghép.


Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu cho thấy phương pháp này có thể trở thành một loại vũ khí hữu hiệu trong cuộc chiến chống AIDS và các nhà nghiên cứu cũng hy vọng sẽ mở rộng phạm vi tiêu diệt virus nhờ cách tiếp cận này.


Thành viên hàng đầu tham gia nghiên cứu, Phó Giáo sư Khoa Huyết học và Ung thư Scott G. Kitchen của Trường y David Geffen thuộc Đại học California, thành viên Viện AIDS đánh giá:"Những nghiên cứu này đặt nền tảng cho việc phát triển phương pháp chữa trị liên quan đến việc khôi phục phản ứng miễn dịch bị tổn hại do một loạt virus, hay thậm chí là các dạng khối u khác nhau gây ra”./.

Theo Vietnam+

Thứ Tư, 23 tháng 12, 2009

Sự kỳ lạ của những giấc mơ



Giấc mơ thường xuyên xuất hiện trong giấc ngủ của mọi người. Có những giấc mơ về điềm gở, tai họa, lại có những giấc mơ báo trước về bệnh tật.
Đã có rất nhiều nhà khoa học cùng biết bao máy móc hiện đại chỉ để tập trung khám phá bí ẩn của mộng mị, nhiều giả thuyết đã được nêu về ý nghĩa và mục đích sinh học của giấc mơ, tuy nhiên tất cả vẫn còn khá mơ hồ như chính bản chất của đối tượng cần giải quyết. Và điều kỳ lạ trong những giấc mơ vẫn khiến không ít người của cuộc sống thật phải trăn trở, suy nghĩ... 


Ác mộng báo trước sự thật

Năm 1865, Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln kể cho bạn bè về một giấc mơ mà trong đó, ông nghe thấy những tiếng động của đám tang từ căn phòng phía Tây trong Nhà trắng. Trong đó có một cái xác quấn vải niệm với nhiều lính gác đứng xung quanh. Vì khuôn mặt cũng bị che kín nên khi được ông hỏi, một lính gác trả lời "Tổng thống". Lincoln bị ám ảnh vì giấc mơ và một tuần sau ông bị ám sát.

Năm 1912, một số người thoát chết trong thảm kịch Titanic nổi tiếng, khi họ kể nằm mơ thấy tàu sẽ chìm. Tình thế tương tự cũng xảy ra trong tai nạn ở Aberfan, xứ Wales, Vương quốc Anh (mưa gây trượt than đá làm chết 116 trẻ em và 28 người lớn tại Trường tiểu học Pantglas). Ít nhất 22 người Anh đã mơ thấy thảm kịch từ trước.

Ngày 28/5/1968, tâm linh gia Alan Vaughan gửi thư tới chuyên gia về giấc mơ Stanley Krippner, thông báo ông mơ thấy một người da đỏ bắn chết Robert Kennedy, ứng cử viên Tổng thống Mỹ. Rồi Vaughan mơ thấy cách bảo vệ nạn nhân; tuy nhiên trước khi nhận được lời cảnh báo, ngày 5/6 Kennedy bị ám sát.


Khuôn mặt bí hiểm trong giấc mơ

Tháng 1/2006, tại New York, khi một nữ bệnh nhân kể với bác sĩ tâm lý của mình rằng có một người đàn ông thường xuyên xuất hiện trong giấc mơ của cô. "Anh ta" đưa ra những lời khuyên về mọi điều trong cuộc sống cho cô. Tuy nhiên, cô gái than rằng chưa bao giờ gặp người đàn ông này một lần nào trong cuộc sống cả và tỏ ra khá sợ hãi. Sau đó cô ngồi vẽ lại chân dung người đàn ông bí hiểm này.

Chỉ vài ngày sau, khi một bệnh nhân khác đến khám bệnh, ông ta vô tình nhìn thấy bức chân dung đặt trên bàn, ông đã vô cùng ngạc nhiên bởi người đàn ông xuất hiện trong bức chân dung kia cũng đã nhiều lần “viếng thăm” vào giấc mơ của ông.

Sau sự việc bí ẩn trùng lặp này, vị bác sĩ đã quyết định gửi tấm chân dung cho một số đồng nghiệp của mình để điều tra vụ việc. Và thật bất ngờ, chỉ trong vòng một tháng, 4 bệnh nhân khác cho biết, họ cũng gặp người đàn ông này khi đang chìm trong giấc ngủ. Khi vừa giơ tấm chân dung ra, tất cả 4 người đều rất bất ngờ và nhận ra ngay khuôn mặt của người đàn ông bí hiểm.

Tính từ tháng 1/2006 cho đến nay đã có ít nhất khoảng 2.000 người thừa nhận, người đàn ông trong bức chân dung kia liên tục xuất hiện trong các giấc mơ của họ. Một điều kỳ lạ, tất cả trong số những người này đều đến từ nhiều thành phố khác nhau ở khắp mọi nơi trên thế giới như: Los Angeles, Berlin, Sao Paulo, Tehran, Bắc Kinh, Rome, Barcelona, Stockholm, Paris, New Dehli, Moskow... Không ai trong số họ có bất kỳ một mối quan hệ nào. Họ đều nhận ra ngay lập tức khuôn mặt của người đàn ông khi vừa xem bức chân dung. Đã có rất nhiều cuộc điều tra, tìm kiếm những người có khuôn mặt tương tự như người đàn ông bí hiểm này, nhưng đến nay vẫn chưa một ai có khuôn mặt như vậy.

Các nhà khoa học cũng... lơ mơ

Nhiều giả thuyết đã được nêu về ý nghĩa và mục đích sinh học của giấc mơ, tuy nhiên vẫn còn khá mơ hồ như chính bản chất của đối tượng cần giải quyết.

Cha đẻ của phân tâm học Freud cho rằng, giấc mơ là "con đường vương giả" dẫn đến vô thức, thành tố quyết định bản chất con người. Theo đó, bay trong mơ thể hiện sự khát dục; đào, táo, nho biểu tượng đôi nhũ hoa; súng, lửa, đạn, gậy, rắn biểu tượng bộ phận sinh dục nam, còn bếp lò, chai, lọ ứng với cơ quan sinh dục nữ. Thực tiễn không ủng hộ các suy đoán quá chủ quan này. Thống kê trên sinh viên năm 1958 cho thấy, thường gặp nhất trong mơ là bị rơi (84%) và bị săn đuổi (80%). Lẽ nào bị rơi và bị săn đuổi lại là ước vọng vô thức của con người? Mơ thấy đi mãi mà không tới phòng thi không phải là ước vọng vô thức, mà chính là dấu hiệu của sự chưa thuộc bài!

Crick (nhà vật lý đoạt giải Nobel vì cấu trúc ADN) và Mitchison lại nghiêng về giả thuyết mơ giúp loại bỏ thông tin vô ích, làm "vệ sinh" bộ não và dành ô nhớ cho thông tin có ích.

Theo Hopson và McCarley, bộ não sinh điện năng trong giấc ngủ REM để kích thích ngẫu nhiên các bộ nhớ khác nhau trong não. Và não sắp xếp các ký ức ngẫu nhiên đó thành mạch truyện có logic và bổ sung chi tiết cần để tạo nên bức tranh toàn cảnh hợp lý. Như vậy, giấc mơ là một trò chơi tự tổ chức của bộ não hơn là một hiện tượng tâm lý có mục đích tự thân.

Tiên tri hay chỉ là sự ám ảnh?

Dù nhớ hay không thì hàng đêm ta vẫn mơ hàng chục giấc mơ. Và người sống đến 70 tuổi sẽ có 150.000 giấc mơ trong cả cuộc đời. Với hàng trăm tỷ người từng sống trên trái đất, tổng các giấc mơ của loài người đạt tới con số 15 triệu tỷ! Trong đó các giấc mơ tiên tri chỉ chiếm một tỷ lệ vô cùng nhỏ, cho thấy chúng chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên.

Trên khía cạnh khoa học, nguyên lý bất định Heisenberg và tính ngẫu nhiên của các sự biến vũ trụ không cho phép tiên tri có thể xảy ra trong vũ trụ của chúng ta. Muốn có tiên tri, cần một vũ trụ khác, với thời gian trôi ngược từ tương lai về hiện tại.

Trong trường hợp Lincohn, ông có nhiều kẻ không ưa và luôn trong tình trạng đe dọa ám sát. Vì thế giấc mơ của ông phản ánh tâm trạng đầy âu lo về tình thế bất ổn vây quanh ông. Trong thảm họa Titanic, phần lớn linh cảm được thông báo sau sự kiện nên không đáng tin cậy. Trong tai nạn Aberfan, cư dân trong vùng nhiều lần cảnh báo mối nguy hiểm chết người nhưng nhà chức trách không quan tâm đúng mức. Trong trường hợp thượng nghị sĩ Robert Kennedy, nên nhớ rằng anh của ông, Tổng thống John Kennedy bị ám sát chỉ vài năm trước và mối nguy hiểm không lúc nào rời Robert khi ông ra tranh cử. Vì thế nếu có người mơ thấy ông bị bắn thì cũng không có gì lạ.

Một số ý kiến khác lại viết rằng, đằng sau hình ảnh người đàn ông bí hiểm là một âm mưu hoặc một kế hoạch nào đó của một tập đoàn lớn, có thể họ muốn thử nghiệm một thí nghiệm mới mà họ đã nghiên cứu ra. Khuôn mặt người đàn ông bí hiểm cho đến nay vẫn còn là một dấu hỏi lớn chưa có lời giải đáp.

Người ta vẫn chỉ có thể "bẻ gãy" những lý luận thiếu cơ sở, nhưng vẫn chưa có một câu trả lời thỏa đáng cho mọi giấc mơ. 

Theo SK & ĐS (N.Y.Times, Discovery)

Lưu ý khi ăn sữa chua


Sữa chua là thức uống bổ dưỡng và tốt cho sức khỏe với rất nhiều lợi ích như: giảm béo, bổ sung canxi, điều tiết dạ dày, đường ruột. Nhưng có phải cứ "cho vào bụng" là xong?


1. Sữa chua và sữa chua uống là một?
Không đúng. Sữa chua và sữa chua uống không giống nhau: sữa chua là do sữa bò nguyên chất trải qua quá trình lên men tạo thành, trên bản chất là thuộc phạm trù của sữa bò. Còn sữa chua uống chỉ là một loại thức uống, không phải là sữa bò.
Hàm lượng dinh dưỡng của hai loại này cũng khác biệt rất lớn: dinh dưỡng của nước uống sữa chua chỉ bằng khoảng 1/3 của sữa chua. Theo tiêu chuẩn quy định của ngành sữa, hàm lượng protein yêu cầu trong 100g sữa chua là ≥2,9g, nhưng hàm lượng protein của nước uống sữa chua chỉ khoảng 1g.
Chú ý: Nước uống sữa chua là sản phẩm có thể tiêu nóng, giải khát, đồng thời còn có một giá trị dinh dưỡng nhất định, nhưng không nên dùng nó thay thế sữa chua và sữa bò.
2. Ăn càng nhiều sữa chua càng có lợi?
Có phải sữa chua muốn ăn bao nhiêu cũng được? Đương nhiên là không phải.
Nếu ăn thoải mái, vô tư thì rất dễ gây ra quá nhiều axit dạ dày, ảnh hưởng đến niêm mạc dạ dày và bài tiết chất xúc tác tiêu hoá, làm mất đi cảm giác thèm ăn, phá vỡ độ cân bằng chất điện giải trong cơ thể, đặc biệt là những người hay thường ngày hay chướng bụng, có lượng axit dạ dày quá nhiều, thường xuyên cảm thấy lạnh bụng thì lại càng không nên ăn.
Chú ý: Đối với những người mạnh khoẻ mỗi ngày nên ăn từ 1-2 cốc sữa chua là thích hợp nhất.
3. Sữa chua dinh dưỡng hơn sữa bò?
Rất nhiều người cho rằng sữa bò sau khi lên men trở thành sữa chua thì càng giàu dinh dưỡng hơn. Trên thực tế, giá trị dinh dưỡng giữa sữa chua và sữa bò khác nhau không lớn. Nhưng so sánh với sữa bò thì sữa chua dễ tiêu hoá và hấp thụ hơn - đó chính là điều làm cho tỉ lệ hấp thụ dinh dưỡng của sữa chua càng cao hơn.
Ngoài ra, thành phần đường hàm chứa trong sữa bò đại đa phần là đường sữa, một số người trong dịch tiêu hoá của họ thiếu chất xúc tác đường sữa, điều này ảnh hưởng đến sự hấp thụ, tiêu hoá và lợi dụng của đường sữa, gọi là "dị ứng sữa bò", lúc này có thể dùng sữa chua để thay thế.
4. Sữa chua có thể phối hợp với các thực phẩm khác?
Sữa chua và rất nhiều thực phẩm khác phối hợp để ăn cùng là rất tốt, đặc biệt là bữa sáng kết hợp cùng với bánh mỳ, bánh quy, có khô có nước, ngon miệng và dinh dưỡng phong phú.
Nhưng tuyệt đối không nên ăn cùng với thực phẩm gia công có dầu mỡ cao như lạp xường, xúc xíc... Bởi vì trong thực phẩm thịt chế biến sẵn có thêm vào chất quặng ni-to-rat kali, chất này sẽ kết hợp với một chất ở trong sữa chua gây ra ung thư.
Sữa chua cũng không nên kết hợp ăn cùng với thuốc uống ví dụ như thuốc kháng sinh, bởi vì như thế có thể giết chết hoặc phá vỡ vi khuẩn có lợi trong sữa chua.
Chú ý: Chúng ra nên nhớ, sữa rất thích hợp kết hợp với thực phẩm tinh bột, ví dụ như cơm, mỳ, bánh bao, bánh mỳ vân vân.
4. Ăn nhiều sữa chua có thể giảm béo?
Sữa chua đích thực có tác dụng giảm béo nhất định, chủ yếu là vì sữa chua hàm chứa đại lượng khuẩn acid sữa, có thể giúp ích điều tiết sự cân bằng nhóm vi khuẩn trong cơ thể, đẩy mạnh dạ dày đường ruột nhu động, từ đó dần dần giải toả chứng táo bón. Ngoài ra sữa chua còn đem lại cho chúng ta cảm giác no nhất định, khi hơi đói ăn một cốc sữa chua có thể giảm nhẹ được cảm giác đói bụng lúc đó, từ đó giảm bớt lượng thức ăn của bữa chính. Nhưng chúng ta nên nhớ,bản thân sữa chua cũng chứa nhiệt lượng nhất định, nhiệt lượng này còn cao hơn cả sữa bò, nếu ngoài bữa ăn chính, chúng ta ăn quá nhiều sữa chua thì cũng có thể làm tăng thể trọng.
6.Lấy sữa chua chống đói
Khi bụng của bạn kêu réo đói cồn cào thì tốt nhất bạn đừng nên lấy sữa chua chống đói, bởi vì khi bụng trống rỗng, độ axit trong dạ dày lớn. Những vi khuẩn có lợi trong sữa chua rất dễ bị axit dạ dày giết chết, và tác dụng bảo vệ sức khoẻ của sữa chua sẽ giảm đi rất nhiều. Sữa chua ăn tốt nhất vào lúc sau bữa cơm từ 1-2 tiếng, bởi vì lúc này dịch dạ dày đã bị loãng, độ kiềm axit trong dạ dày rất thích hợp cho vi khuẩn có lợi phát triển. Ngoài ra, buổi tối ăn sữa chua thì sẽ có nhiều lợi ích hơn.
Chú ý: Sau khi ăn sữa chua đặc biệt là vào buổi tối cần lập tức đánh răng, bởi vì một số vi khuẩn nào đó trong sữa chua và chất axit đều gây hại nhất định cho răng.
7. Sữa chua thích hợp cho mọi đối tượng?
Trên thực tế, mặc dù sữa chua rất tốt nhưng không phải tất cả mọi đối tượng đều thích hợp để ăn. Những người đau bụng đi ngoài hoặc có bệnh về đường ruột sau khi đường ruột bị tổn thương thì cần thận trọng khi ăn sữa chua.
Ngoài ra, người bị bệnh tiểu đường, xơ cứng động mạch, viêm túi mật và viêm tuyến tuỵ tốt nhất không nên ăn sữa chua toàn chất béo hàm chứa đường, nếu không sẽ làm bệnh tình nặng thêm.
Chú ý: Những người nên ăn nhiều sữa chua là người thường xuyên uống rượu, thường xuyên hút thuốc, thường xuyên làm việc với máy tính, thường xuyên bị táo bón, người bệnh phải uống thuốc kháng sinh, xương cốt lỏng lẻo, mắc bệnh tim mạch....
8. Sữa chua tuyệt đối không được hâm nóng
Rất nhiều tư liệu đều nói sữa chua không được làm nóng lên để ăn, bởi vì sau khi làm nóng, vi khuẩn có lợi nhất trong sữa chua bị giết chết. Hơn nữa khẩu vị và cảm giác đều thay đổi, giá trị dinh dưỡng và chức năng bảo vệ sức khoẻ cũng sẽ giảm thấp.
Nhưng nếu chỉ làm ấm sữa chua thì vi khuẩn có lợi trong sữa chua sẽ không bị giết chết mà ngược lại còn tăng thêm sự "hoạt bát" của chúng và tác dụng bảo vệ sức khoẻ sẽ càng lớn.
Chú ý: Bạn có thể để túi hoặc cốc sữa chua vào trong cốc nước khoảng 45℃ để dần dần làm ấm sữa. Cách này áp dụng vào mùa đông vì mùa đông lạnh lẽo ăn một cốc sữa chua ấm tốt hơn nhiều so với sữa chua lạnh.
Dương Hằng – Dan Tri

Viêm họng khi nào dùng kháng sinh?


Viêm họng là một bệnh rất thường gặp và do nhiều nguyên nhân gây ra. Khoảng hơn hai phần ba các trường hợp viêm họng đều không cần dùng đến kháng sinh. Nhưng trên thực tế hầu hết bệnh nhân đều dùng kháng sinh do có thể tự mua ở nhà thuốc hoặc cũng có thể được kê toa không phù hợp, và cũng không ít bệnh nhân đi khám bệnh vì muốn được uống kháng sinh.


Thông thường, trên thực tế nguyên nhân của viêm họng thường được chia làm ba nhóm:
Thứ nhất là nhóm nguyên nhân do những yếu tố kích thích, không do nhiễm trùng: như thuốc lá, trào ngược dịch vị từ dạ dày, chảy mũi sau, hoặc do dị ứng với khói bụi, không khí ẩm, vật nuôi, vải sợi.
Viêm họng do nhóm nguyên nhân này thường hay lặp đi lặp lại và thường có bệnh sử ợ hơi ợ chua, viêm dạ dày, hút thuốc lá, làm việc trong môi trường ô nhiễm, hay nuôi thú, tiếp xúc với hóa chất rất rõ.
Bệnh cũng có thể diễn tiến âm ỉ kéo dài và thường đi đôi với bệnh lý của đường hô hấp như viêm mũi xoang, viêm mũi dị ứng, viêm thanh quản mạn. Cách điều trị lý tưởng là điều trị loại bỏ các yếu tố nguyên nhân: điều trị trào ngược, điều trị viêm mũi xoang, làm vệ sinh môi trường sống thật tốt và có chế độ ăn uống phù hợp: tránh các thực phẩm dị ứng, quá nóng, quá lạnh hoặc nhiều chất gia vị.
Thứ hai là nhóm nguyên nhân do nhiễm siêu vi trùng (virus), nhóm nguyên nhân này chiếm khoảng 80-90% các trường hợp viêm họng ở người lớn và khoảng 70-80% các trường hợp viêm họng ở trẻ em.
Viêm họng do nhóm nguyên nhân này ngoài triệu chứng đau họng, bệnh nhân thường có một hoặc nhiều triệu chứng sau: mệt mỏi, sốt nhẹ, chảy mũi, hắt xì, ho, khàn tiếng. Trẻ em thường có thể có các triệu chứng không điển hình như thở miệng, ói, đau bụng hoặc tiêu chảy.
Để điều trị bệnh viêm họng do nhóm nguyên nhân này bệnh nhân cần nghỉ ngơi, uống nhiều nước, uống thuốc giảm đau, hạ sốt, thuốc long đàm giảm ho và kháng histamine giảm chảy mũi. Bệnh thường khỏi sau 5-7 ngày, đôi khi cũng có những trường hợp nặng kéo dài 10-14 ngày. Nếu sử dụng kháng sinh ở nhóm nguyên nhân này chẳng những không có tác dụng mà rất có thể bị dị ứng thuốc và nguy cơ tạo sự kháng thuốc.
Thứ ba là nhóm nguyên nhân do vi trùng, trong đó vi trùng thường gặp nhất là liên cầu khuẩn bêta tan huyết nhóm A, nhóm nguyên nhân này chiếm khoảng 5-15% các trường hợp viêm họng ở người lớn, và khoảng 10-30% các trường hợp viêm họng ở trẻ em.
Đặc biệt ở trẻ từ 5-15 tuổi khi bị viêm họng do liên cầu khuẩn bêta tan huyết nhóm A nếu không phát hiện điều trị kịp thời có thể gây bệnh sốt thấp cấp (vi trùng tấn công mô liên kết như tim, gây tổn thương van tim, hoặc khớp, não và da) hoặc bệnh viêm cầu thận hậu nhiễm liên cầu mặc dù ngày nay biến chứng này rất hiếm xảy ra.
Đây là nhóm nguyên nhân viêm họng duy nhất cần sử dụng kháng sinh.
Triệu chứng đau họng trong bệnh viêm họng do nhiễm trùng thường xuất hiện đột ngột, không có ho sổ mũi hoặc viêm kết mạc mắt đi kèm, nhưng thường có sưng hạch cổ và sốt cao.
Để chẩn đoán xác định bệnh, bác sĩ sẽ nuôi cấy bệnh phẩm từ phết họng và amiđan. Tuy nhiên, trên thực tế do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đa số các trường hợp bác sĩ thường dựa trên kinh nghiệm qua sự thăm khám tỉ mỉ để quyết định điều trị kháng sinh cho bệnh nhân.
ThS.BS NGUYỄN TRƯƠNG KHƯƠNG

Thứ Hai, 21 tháng 12, 2009

Hành, kiệu muối bị mốc dễ gây ung thư gan

Hành củ, kiệu muối là những món ăn mang đậm hương vị ngày Tết mà gần như trong mỗi gia đình đều có. Nhưng khi hành củ, kiệu muối để lâu nổi váng mốc thì tốt nhất là không nên ăn vì nó có chứa độc tố có thể có thể gây bệnh ung thư gan.
Các loại dưa món như hành củ, kiệu muối, su hào, cà rốt muốn có vị chua ngọt rất dễ ăn. Nó có tác dụng giảm ngấy, kích thích vị giác ngon miệng hơn khi ăn những món ăn béo ngậy như thịt mỡ, bánh chưng… Chất xơ trong dưa món, củ kiệu còn có khả năng chống béo phì, cải thiện sự bài tiết cholesterol.

Tuy nhiên, các chuyên gia về phòng chống bệnh ung thư luôn khuyên mỗi người nên hạn chế sử dụng một số loại thực phẩm ướp muối và hun khói như thịt, cá hun khói, hoặc ủ chua, ngâm giấm như các loại dưa món, dưa chua trong đó có cả hành củ và kiệu.

Các loại thức ăn muối mặn như: Dưa chua, cà pháo… làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày do có chất nitrosamin. Song, ở những người ăn thường xuyên các thực phẩm đó thì mới có nguy cơ ung thư cao còn nếu biết cách ăn uống, ăn vừa phải và ăn kèm với các thực phẩm chống ung thư như: Rau xanh, hoa quả tươi thì không có gì đáng ngại.


Đặc biệt, cần lưu ý khi hành muối, kiệu muối để quá lâu bị nổi váng hoặc mốc đen thì theo TS.BS Trần Đình Toán, trưởng khoa Dinh dưỡng Bệnh viện Hữu Nghị, tuyệt đối không nên dùng. Những vi nấm trong các loại thực phẩm bị mốc đó về cơ bản là không gây hại nhưng có thể có một loại nấm gây hại là aspergilus flavor. Vi nấm này sản sinh ra một loại độc tố là aflatocin.

Theo các tài liệu nước ngoài thì về lâu dài aflatocin có thể gây bệnh ung thư gan, tổn thương hệ thần kinh trung ương, tim, phổi và sản sinh ra một số chất độc hại khác. Độc tố này cũng có trong các loại hạt mốc như lạc, đỗ, hướng dương và bánh mỳ mốc.

Vì thế, các chuyên gia khuyên rằng đối với hành củ, kiệu bị mốc nổi váng trắng thì có thể hớt bỏ váng, dùng nước ấm rửa sạch để ăn. Còn khi đã bị mốc nổi váng đen thì tốt nhất không nên ăn.

Theo Hồng Anh
Khoa học & Đời sống
5 tác dụng tuyệt vời của sôcôla
(Dân trí) - “Từ lâu, sôcôla đã được biết đến với tác dụng chống mệt mỏi và u buồn. Tuy nhiên, những tác dụng của sôcôla không chỉ dừng lại ở đó. Bạn có biết sôcôla còn có những lợi ích tuyệt vời khác?”



Chất chống oxy hóa hiệu quả
Khí oxy mà chúng ta hít thở hằng ngày giúp cho cơ thể hoạt động nhưng đồng thời cũng sản sinh ra một lượng lớn các gốc tự do (chất oxy hóa) tấn công các cơ quan trong cơ thể. Cacao chứa một lượng lớn chất chống oxy hóa, có khả năng vô hiệu quá hoặc trung hòa các gốc tự do này.
Khả năng chống oxy hóa của sôcôla cao hơn 4 - 5 lần so với trà đen và cao hơn 2 - 3 lần so với trà xanh hoặc rượu vang. Chính là do chất flavonoide (chất chống oxy hóa có trong sôcôla) và các khoáng chất khác (kẽm, mangan, đồng) đã làm nên công dụng đặc biệt này của sôcôla.
Tốt cho bà bầu
Theo một nghiên cứu được giới thiệu trong tạp chí Epidemiology, việc ăn sôcôla đen hàng ngày trong thời gian bầu bí có thể làm giảm tới 69% nguy cơ mắc chứng tiền sản giật (do huyết áp tăng cao đột ngột) mà có thể dẫn đến sinh non.
Nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa học của trường ĐH Yale, dựa trên 2.291 phụ nữ mang thai. Nhóm nghiên cứu đã nhận thấy rằng, những phụ nữ ăn nhiều sôcôla thì sẽ có hàm lượng theobromin ở dây rốn cao hơn và người mẹ sẽ ít nguy cơ bị tiền sản giật. Theobromin là một thành phần có nhiều trong sôcôla đen.
Khuyến khích sản xuất cholesterol tốt
Máu vận chuyển cholesterol trong các mạch máu nhờ vào các “protein vận chuyển”. Những cholesterol được chuyển tới gan và thải ra ngoài là những cholesterol tốt. Ngược lại, cholesrerol bị tích tụ ở các động mạch có thể gây ra các bệnh về tim mạch là những cholesterol xấu.
Sôcôla và cacao có thể bảo vệ các bộ phận của cơ thể khỏi những cholesterol xấu. Chất flavonoide có trong loại thực phẩm này có tác dụng giảm lượng cholesterol xấu và khuyến khích việc sản sinh cholesterol tốt. Ngoài ra, vitamin B3 có trong sôcôla cũng cho phép giảm nguy cơ nghẽn mạch.
Trị cao huyết áp
Việc ăn 6g sôcôla đen mỗi ngày sẽ giúp làm hạ huyết áp. Kết quả nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Jama của Đức.
Nghiên cứu của bệnh viện Cologne đã được tiến hành trên 44 người trong độ tuổi từ 56 đến 73 và huyết áp trung bình là 147/86. Những người tình nguyện đã theo chế độ ăn 6g sôcôla mỗi ngày trong 18 tuần. Kết quả cho thấy, huyết áp của những người này đã giảm một cách đáng kể. Trong khi đó, những người ăn sôcôla trắng lại không có kết quả tương tự vì trong sôcôla trắng không chứa chất polyphenol.
Chống lại stress
Để chống lại lo âu và căng thẳng, không gì có thể tốt hơn là ăn nhiều thực phẩm có chứa ma giê, sôcôla là một trong số những thực phẩm có hàm lượng magie rất cao. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định rằng nguyên tố này đóng vai trò quan trọng trong việc phòng chống những tác động của stress.
Việc thiếu magie sẽ kéo theo việc thiếu năng lượng cho cơ thể biểu hiện qua việc mệt mỏi, cảm thấy kiệt sức hay tâm trạng lo âu. Ngược lại, khi bạn cảm thấy khỏe mạnh, bạn có thể tự tin và dễ dàng đối mặt với các vấn đề khó khăn.
Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, những thực phẩm giàu ma giê như sôcôla còn có khả năng giảm nguy cơ tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim và bệnh tiểu đường tuyp 2.
Bích Ngọc
Theo Femme Actuelle
Những bệnh “kị” sữa
(Dân trí) - Giàu dinh dưỡng nhưng sữa và các sản phẩm từ sữa không phải lúc nào cũng là lựa chọn số 1 cho tất cả mọi người. Có một số bệnh mà uống sữa không những không có lợi cho sức khoẻ cơ thể mà còn làm tình trạng bệnh trở nên trầm trọng.



1. Thiếu máu do thiếu sắt
Cơ thể chỉ hấp thụ các chất sắt có trong thực phẩm khi được hệ tiêu hoá xử lý và chuyển thành loại khoáng chất đặc trưng của cơ thể. Đối với các bệnh nhân thiếu máu do thiếu sắt, khi uống sữa, loại khoáng chất đặc trưng này sẽ kết hợp với các thành phần muối canxi và phốt pho có trong sữa bò tạo thành hợp chất hoá học có tính hoà tan. Điều này không có lợi cho việc hấp thụ sắt của cơ thể.
2. Viêm thực quản
Ở những bệnh nhân mắc chứng viêm thực quản, thành phần chất béo trong sữa có thể dẫn tới hiện tượng co hẹp thực quản, từ đó làm ra tăng sự hồi lưu trong hoạt động của dạ dày cũng như đường ruột.
3. Bệnh nhân phẫu thuật vùng bụng
Những người vừa trải qua phẫu thuật vùng ổ bụng thường có hiện tượng bị đầy hơi. Nếu uống sữa sớm, các chất béo và prôtêin có trong sữa rất khó tiêu hoá và dễ lên men. Do vậy càng ảnh hưởng tới nhu động của ruột, làm tình trạng đầy bụng khó tiêu trở càng trở nên trầm trọng.
4. Đau dạ dày
Sự lên men của sữa sau khi vào cơ thể sẽ kết hợp với các axit và men tiêu hoá có sẵn trong dạ dày. Do đó sẽ gây kích ứng các chỗ viêm loét hoặc lớp niêm mạc trong thành dạ dày, làm cảm giác đau càng tăng lên.
5. Viêm túi mật, viêm tuyến tuỵ
Để phân giải và chuyển hoá thành phần chất béo và prôtêin của sữa đòi hỏi phải có sự làm việc “hết mình” của mật và tuyến tuỵ. Khi bạn mắc các bệnh như viêm túi mật hoặc viêm tuyến tuỵ, sữa sẽ là “thách thức” lớn nhất cho sức khoẻ cơ thể.
Lan Thu
Theo healthpeople

Thứ Tư, 16 tháng 12, 2009

Những người không nên ăn cay


(Dân trí) - Với những fan của cay, món ăn hàng ngày chỉ cần thiếu vắng hoặc vị cay không được đậm đà là cảm thấy bữa ăn đó thật vô vị, tẻ nhạt. Họ có thể ăn cay “cháy cổ”, ăn đến “đỏ mặt, chảy nước mắt”…mà không mảy may chú ý đến nhu cầu sức khỏe.






Do đó các nhà dinh dưỡng học khuyến nghị những trường hợp sau không nên ăn cay, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.

1.Những người mắc bệnh mạch máu não, cao huyết áp, viêm khí quản mãn tính, bệnh lao phổi.

Những đối tượng này không nên ăn ớt hay bất kỳ chất cay nào. Bởi chất cay trong ớt sẽ kích thích tuần hoàn máu khiến tim đập nhanh.

Nếu ăn quá nhiều chất cay trong một khoảng thời gian ngắn có thể làm tim hoạt động yếu hơn, thậm chí bị bầm dập do sức nóng trong chất cay tỏa ra, nếu không nguy hiểm đến tính mạng thì cũng làm bệnh tình ngày thêm trầm trọng, khó có thể điều trị tận gốc.

2. Những người mắc bệnh viêm dạ dày mãn tính, loét dạ dày, viêm thực quản.

Do bề mặt dạ dày những người mắc bệnh bị thương tổn nặng vì tình trạng viêm nhiễm, lở loét nên khi ăn cay, dạ dày chịu sự kích thích đột ngột của chất cay sẽ co bóp dữ dội, gây ra hiện tượng đau bụng, đi ngoài… ảnh hưởng đến sự phục hồi chức năng tiêu hóa của dạ dày cũng như các cơ quan tiêu hóa khác.

3. Những người mắc bệnh viêm túi mật, sỏi mật, viêm tuyến tụy.

Khi chịu kích thích của chất cay, dịch tiêu hóa trong dạ dày tiết ra ồ ạt, làm túi mật bị co thắt, miệng cơ vòng bị co giật mạnh dẫn đến dịch mật tiết ra gặp khó khăn từ đó gây ra viêm túi mật, sỏi mật, viêm tuyến tụy ảnh hưởng xấu cho sức khỏe.

4. Những người mắc bệnh trĩ

Các tĩnh mạch quanh vùng trĩ (hậu môn) sẽ sưng tấy lên khi chịu kích thích từ các chất cay làm cho bệnh càng trở lên nghiêm trọng. Ngoài ra, ăn quá cay sẽ dẫn đến táo bón, lâu ngày sẽ mắc bệnh sỏi thận vô cùng nguy hại.

5. Những người mắc bệnh mắt đỏ, viêm giác mạc

Cấm kị thức ăn cay đối với những đối tượng trên. Theo Đông y, hỏa lại thêm hỏa chẳng khác nào “đổ thêm dầu vào lửa”, làm bệnh tình càng trở lên trầm trọng.

6. Sản phụ, thai phụ

Sản phụ và thai phụ không nên ăn ớt hay bất cứ loại chất cay nào để tránh hiện tượng miệng bị sưng dộp, táo bón, ảnh hưởng chất và lượng sữa cho bé.

7. Những người mắc các bệnh về thận

Thận là “chiếc máy lọc” hữu hiệu của cơ thể, nhưng khi chiếc máy lọc này chịu sự tác động dữ dội của những chất cay có độ tàn phá lớn, những tế bào trong thận sẽ bị tổn thương nghiêm trọng, có thể làm suy yếu hoạt động và chức năng lọc của thận. Sẽ vô cùng nguy hại nếu thận hoạt động yếu, vì khi đó cơ thể sẽ không hấp thụ tốt các chất dinh dưỡng cũng như không thể “đào thải” những chất cặn bã ra khỏi cơ thể.

8. Người gầy

Những người gầy thường mắc các chứng khô cổ họng, miệng đắng, phiền muộn, dễ nổi cáu… Ăn cay không những làm tăng các chứng bệnh trên mà còn dễ bị dị ứng, u nhọt…

9. Những người đang uống thuốc

Cấm tuyệt đối ăn cay với những người đang dùng thuốc (Tây y cũng như Đông y) vì chất cay có thể làm giảm hiệu quả của thuốc cũng như gây ra những tác dụng phụ nguy hiểm.

Khuyến cáo: ngay cả những người không mắc bệnh cũng không nên ăn quá cay. Theo điều tra, phần lớn những người mắc các bệnh: ung thư thực quản, ung thư dạ dày đều ăn cay quá nhiều trong một thời gian dài. Bạn có thể ăn cay nhưng ở mức độ vừa phải, chỉ là tô điểm cho bữa ăn của bạn mà thôi.

Phạm Hằng
Theo xinhuanet
Girls Generation - Korean